Tâm điểm > Năng lượng tái tạo


Năng lượng tái tạo

Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo nối lưới tại Việt Nam

Tháng 11 năm 2015, Th tướng chính phủ đã phê duyt "Chiến lược phát trin năng lượng tái to Vit Nam đến năm 2030 và tm nhìn đến năm 2050"; Chiến lược này đã gii thiu một quan đim rõ ràng, các mc tiêu và các định hướng chính sách  phát trin năng lượng tái tạo tới năm 2030 và định hướng đến năm 2050. Các mc tiêu đưa ra trong chiến lược này là cơ s để xác định nguồn lực tài nguyên trong vic phát trin các ngun năng lượng tái to.

Phát triển Thuỷ điện

Tổng công suất các nhà máy thủy điện tại Việt Nam hiện nay khoảng 17.000 MW, tới năm 2025 hầu hết các nhà máy thủy điện đã được phát triển với tổng công suất khoảng 25.000 MW. Tỷ lệ thuỷ điện trong hệ thống điện quốc gia đã giảm từ 50% năm 2015 xuống còn 22% trong năm 2030 và khoảng 10% trong năm 2050 (hình bên dưới).

Hình 1: Công suất thuỷ điện và tỷ lệ trong hệ thống điện quốc gia

Năm 2015, các nhà máy thủy điện của Viêt Nam sản xuất 56 tỉ kwh từ nguồn nước, năm 2025 sản xuất 96 tỉ KWh. Tỉ lệ công suất điện từ thuỷ điện trong hệ thống điện quốc gia giảm từ 43% năm 2015 xuống còn 17% năm 2030 và khoảng 9% năm 2050.

Hình 2: Sản xuất thuỷ điện và tỉ lệ trên hệ thống điện quốc gia

Phát triển Điện gió

Nâng công suất điện gió tại thời điểm hiện tại 135MW lên 1.000MW vào năm 2020; xấp xỉ 6.200 MW vào năm 2030 và khoảng 20.000 MW vào năm 2050. Cần gia tăng tỉ lệ công suất điện gió trong hệ thống điện lưới quốc gia khoảng lên khoảng 2% vào năm 2020, khoảng 4% năm 2030 và khoảng 5% năm 2050 (theo hình).

Hình 3: Công suất điện gió và tỉ lệ điện gió trên hệ thống điện lưới quốc gia

Sản xuất điện gió tăng xấp xỉ từ 180 triệu KWh năm 2015 lên khoảng 2,5 tỷ kWh vào năm 2020, khoảng 16 tỉ KWh vào năm 2030 và 53 tỉ kWh vào năm 2050. Đưa tỉ lệ điện sản xuất từ năng lượng gió vào hệ thống sản lượng điện quốc gia từ mức không đáng kể tại thời điểm hiện tại lên tới 1% vào năm 2020, khoảng 2,7% vào năm 2030 và khoảng 5.0% vào năm 2050 (theo hình dưới).

Hình 4: Sản xuất điện gió và tỉ lệ điện gió trên hệ thống điện quốc gia

Phát triển năng lượng Điện Mặt Trời

Vì các thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời để đun nóng với công nghệ đơn giản, do vậy trong phần này chỉ sử dụng năng lượng mặt trời để sản xuất điện. Phát triển năng lượng mặt trời để cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia và các khu vực bên ngoài lưới điện quốc gia.

Trong Chiến lược được phê duyệt, Công suất điện từ năng lượng mặt trời là khoảng 908 MW vào năm 2020; tăng lên 23.600 MW vào năm 2030 và gần 14.000 trong năm 2050. Tỷ lệ công suất điện năng lượng mặt trời từ mức không đáng kể tại thời điểm hiện tại lên 1,4% trong năm 2020, khoảng 17% trong năm 2030 và khoảng 38% năm 2050 (hình sau).

Hình 5: Công suất điện năng lượng mặt trời và tỉ lệ trên hệ thống điện quốc gia

Điện năng sản xuất từ năng lượng mặt trời tăng từ 10 triệu kWh năm 2015 lên khoảng 1,4 tỉ kWh năm 2020; khoảng 35.4 tỉ kWh vào năm 2030 và khoảng 210 tỉ kWh vào năm 2050. Đưa tỉ lệ điện sản xuất từ năng lượng mặt trời vào hệ thống sản lượng điện quốc gia từ mức không đáng kể tại thời điểm hiện tại lên tới 0.5% vào năm 2020, khoảng  6% vào năm 2030 và 20% vào năm 2050 (theo hình dưới).

Hình 6: Sản xuất điện mặt trời và tỉ lệ trên hệ thống điện quốc gia

Phát triển Năng lượng Sinh khối

Theo chiến lược được phê duyệt, tổng năng lượng sinh khối được sử dụng tăng từ 14.4 triệu TOE vào năm 2015, lên khoảng 16.2 triệu TOE vào năm 2020; xấp xỉ 32.2 triệu TOE vào năm 2030 và 62.5 triệu TOE vào năm 2050. Trong đó:

-      Năng lượng sinh khối cho sản xuất điện tăng từ 0.3 triệu TOE vào năm 2015 lên khoảng 1.8 triệu TOE vào năm 2020; xấp xỉ 9.0 triệu TOE vào năm 2030 và 20 triệu TOE vào năm 2050. Sản lượng điện tương ứng tăng từ 0.6 tỉ kWh năm 2015 lên gần 7.8 tỉ kWh năm 2020;khoảng 37 tỉ kWh vào năm 2030 và 85 tỉ kWh vào năm 2050. Đưa tỉ lệ điện sản xuất từ nguyên liệu sinh khối  vào hệ thống tổng sản lượng điện quốc gia từ khoảng 1% lên khoảng 3% vào năm 2020; khoảng 6.3% vào năm 2030 và khoảng 8.1% vào năm 2050

Hình 7: Điện sản xuất từ nguyên liệu sinh khối và tỉ lệ phần tram trên hệ thống điện quốc gia

Sinh khối để sản xuất nhiệt tăng từ 13,7 triệu TOE vào năm 2015, khoảng 13,6 triệu TOE vào năm 2020, tăng lên 16,8 triệu TOE vào năm 2030 và khoảng 23 triệu TOE trong năm 2050. Năng lượng sinh khối trong nhu cầu năng lượng cuối cùng chiếm khoảng 25% trong năm 2015, khoảng 17% trong năm 2020, chiếm 14% trong năm 2030 và khoảng 12% vào năm 2050.

- Tổng số sinh khối để sản xuất nhiên liệu sinh học tăng từ 0,2 triệu TOE năm 2015 lên khoảng 0,8 triệu TOE năm 2020; khoảng 6,4 triệu TOE vào năm 2030 và khoảng 19,5 triệu TOE năm 2050.

Theo Chiến lược, công suất điện sinh khối là khoảng 1.800 MW vào năm 2020; tăng lên đến 7.600 MW vào năm 2030 và 14.400 vào năm 2050. Tỷ lệ công suất điện sinh khối từ hiện tại là 1%, đạt 3% trong năm 2020, khoảng 5% vào năm 2030 và khoảng 4% năm 2050 (hình dưới).

Hình 8: Công suất điện sinh khối và tỉ lệ trên hệ thống điện quốc gia